Bác Sĩ Ðặng Trần Hào
Phù thũng có thể ảnh hưởng trên nhiều phần của cơ thề như mặt, mí mắt, chân tay hay toàn thân. Nhưng phù thũng thường hay thấy liên quan tới ba tạng điều hành thủy đạo trong cơ thể là: Phế, lá lách và thận.

Từ biểu (từ ngoài) ảnh hưởng phế khí không điều hòa được.

Chức năng quan trọng của hệ thống hô hấp là cung cấp dưỡng khí cho cơ thể, đồng thời thải bỏ thán khí. Muốn hoàn thành công tác ấy hơi thở phải trải qua tiến trình gồm bốn hoạt động trong cùng một lúc: Thông phổi - Hô hấp ngoài - Chuyển tải khí hô hấp - Hô hấp trong.

Chúng ta cũng nên biết hơi thở chia ra làm hai chu kỳ: Hít vào là giai đoạn khí tuôn vào phổi và thở ra là giai đoạn khí rời khỏi phổi. Áp suất hơi thở được coi là bình thường khi nào thời lượng giữa hít vào và thở ra đều nhịp nhàng khoan hòa. Không gấp hoặc dồn dập.

Phế còn thông điều thủy đạo, và túc giáng: Nếu phế mất khả năng túc giáng sự thay đổi cũ mới của thủy dịch sẽ gây ra trở ngại, thì thủy dịch sẽ dồn lại, tiểu tiện sẽ không thông, lâu ngày sẽ sinh ra phù thũng. Phế chủ về khí, cho nên lỗ chân lông cũng gọi là “khí môn.” Người bệnh phế khí hư có thể gây ra suyễn và da lông cũng thường bị hư yếu, hay ra mồ hôi còn dễ bị cảm khi thời tiết đổi từ nóng sang lạnh, hay đổi từ Thu sang Ðông là như vậy.

Ðiều quan tâm là bộ phận hô hấp dễ bị tổn thương, vì hàng ngày tiếp nhận vô số vi sinh vật, vi khuẩn hay vi trùng từ ngoài xâm nhập. Một khi phế khí bị tổn thương làm thủy dịch bị ứ lại, cản trở đường tiểu tiện gây phù thũng, nhất là vùng mặt và mí mắt.

Chẳng hạn do phong hàn xâm nhập vào phế kinh làm chướng ngại phế quản, bế tắc đường lưu thông ra vào của khí nên gây ho.

Do hàn tà bít lấp bên ngoài nên có triệu chứng sốt, sợ gió, nhức đầu, ho, đau cổ họng, đau mình, không có mồ hôi, sưng mặt và mí mắt bị húp, tiểu tiện ít. Rêu lưỡi trắng mỏng. Mạch phù và cứng.



Bài thuốc

Kinh giới 9 grs
Phòng phong 9 grs
Ðạm đậu xị 9 grs
Khương hoạt 9 grs
Ðộc hoạt 9 grs
Trần bì 6 grs
Bạc hà diệp 6 grs
Hạnh nhân 9 grs
Chỉ xác (sao) 6 grs
Tô diệp 6 grs
Sinh Khương 3 lát
Xa tiền tử 9 grs

-Kinh giới, phòng phong, tô diệp: Giải phong hàn và giáng phế khí.

-Khương hoạt, độc hoạt: Trị đau nhức.

-Bạc hà diệp, chỉ xác: Thông phế quản và giáng khí.

-Hạnh nhân: Trị ho.

-Xa tiền tử: Lợi tiểu, tiêu thấp, thông điều thủy đạo, trị phù thũng.

-Trần bì, sinh khương, đạm đậu xị: Ôn trung tiêu, giúp tiêu hóa dễ dàng.



Tỳ khí mất khả năng chuyển hóa gây phù thũng
Tiểu tiện ít, biếng ăn, ăn không ngon, người mệt mỏi, chân tay đôi khi không có lực, bụng đầy chướng, ăn không ngon, đại tiện lỏng chườm nóng thấy dễ chịu, chân tay sợ lạnh, sắc mặt vàng nhợt. Mạch trầm và khổng. Rêu lưỡi trắng dầy và ướt.



Tứ Quân Tử Thang

Sâm hoa kỳ 12 grs
Bạch truật 9 grs
Phục linh 9 grs
Cam thảo 6 grs

Gia:
Hoài sơn (sao) 12 grs
Sa nhân 6 grs
Ý dĩ nhân (sao) 12 grs
Trần bì 6 grs
Trạch tả 9 grs
Xa tiền tử 9 grs

-Nhân sâm: Bổ tì và bao tử.

-Bạch truật: Tiêu thấp trong bao tử.

-Phục linh: Thông thủy tích trong bao tử.

-Cam thảo: Phối hợp và điều động các vị thuốc.

-Hoài sơn, sa nhân, ý dĩ, trần bì: Bổ tỳ vị khí, kiện toàn tiêu hóa, giúp ăn ngon và ngưng tiêu chẩy.

-Trạch tả, xa tiền tử: Lợi tiểu, thông điều thủy đạo, trị phù thũng tứ chi, nhất là vùng hạ tiêu như cẳng và bàn chân.



Phù thũng do thận dương suy yếu
Thường gập ở người già phù thũng mãn tính. Hay đi tiêu chẩy vào buổi sáng sớm, sôi bụng, đau vùng hạ vị, phân còn sống, bụng đầy chướng, biếng ăn, chậm tiêu hóa, chân tay lạnh, thích nóng, đi tiểu ít, phù toàn thân, nhất là vùng dưới thắt lưng, vùng thắt lưng nặng và đau, chân tay lạnh và sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi, mặt sạm đen hay trắng bệch, chân yếu bất lực. Mạch nhược. Rêu lưỡi trắng và mập.




Phụ Tử Lý Trung Thang

Phụ tử chế 9 grs
Ðảng sâm 12 grs
Bạch truật 12 grs
Cam thảo 6 grs
Can khương 9 grs
Phá cố chỉ 12 grs
Ngô thù du 6 grs
Bạch đậu khấu 6 grs
Ngũ vị tử 6 grs

Gia:
Bạch biển đậu 9 grs
Mộc hương 9 grs
Sa nhân 6 grs
Thần khúc 9 grs
Sơn tra 12 grs
Trạch tả 9 grs
Xa tiền tử 9 grs
Tang bạch bì 9 grs

-Ðảng sâm, bạch truật, can khương, phá cốt chỉ, ngô thù du, ngũ vị tử: Bổ tỳ khí, kiện toàn tiêu hóa và tán hàn.

-Phụ tử: Bổ thận dương và ôn trung tán hàn.

-Mộc hương, sa nhân, bạch biển đậu, thần khúc, sơn tra: Tản khí, ôn tỳ vị, tiêu thấp, kiện toàn tiêu hóa, ngưng tiêu chẩy.

-Trạch tả, xa tiền tử-tang bạch bì: Lợi tiểu, thông điều thủy đạo, trị phù thũng.

-Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.

Thường thận dương suy gây ra cẳng chân và bàn chân bị phù nhẹ, đẩy ngón tay xuống và bỏ ra một vài phút sau mới trở lại bình thường, cần phải chữa trị cho thận bình phục, nếu không sẽ bị nặng hơn, đưa tới suy tim và có thể đưa tới phải lọc thận nếu không được chữa trị.


Chủ đề tương tự: